Bài TH Khóa 141/2016 – HV NGUYỄN MỸ LUYỆN

Bài TH Khóa 141/2016 – HV NGUYỄN MỸ LUYỆN
Ngày đăng: 27/01/2021 02:28 PM

     BÀI THU HOẠCH

    1. Từ khi học đến nay, bạn đã làm được bao nhiêu ca bệnh cho mình và cho người khác? Tỷ lệ thành công và thất bại? Kể ra những ca thành công và thất bại.

    Từ khi học đến nay tôi đã chữa cho mình được mấy ca bệnh:

    Sau đó nắm bàn tay trái lại cho ngón cái vào trong lòng bàn tay, hơ ngải cứu ở cổ tay, dưới cườm tay 30 giây, lấy cây lăn đồng lăn đi lăn lại 30 lần đếm. Tôi hỏi  tay thấy sao? Trả lời: êm êm đỡ nhiều. Tôi nối lần thứ 2 như trên nghỉ 2 phút ròi hơ 2 lần như thế nữa. Sau khi làm xong tôi hỏi lại bây giờ thế nào thì bạn trả lời: đã giảm đau và đỡ nhức nhiều khoảng 60-70%.

    1. Huyệt nào hoặc phác đồ nào bạn tâm đắc nhất? Tại sao? Kể ra chi tiết vài ca?

    Tôi tâm đắc nhất phác đồ chưa suy nhược thần kinh: 127,37,1,73, 106,103. Huyệt 127 có tác dụng an thần mạnh, làm ấm bụng, điều hòa nhu động ruột, hành khí, tăng lực, liên quan đến các bộ quan trọng trong cơ thể như: tử cung, gót chân, bụng dưới, ruột non, tương ứng huyệt Khí Hải. Huyệt 127 còn chủ trị rất nhiều bệnh: mất ngủ, khó ngủ, đổ mồ hôi chân tay, suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh,…

    Huyệt 37 trên đường dọc qua con ngươi tuyến G, ngang điểm giữa cánh mũi tuyến VIII. Tác dụng cầm máu, thông hành khí huyết, trị tiêu hóa, giảm đau vùng lách, tiêu đờm nhớt, điều hòa sự rối loạn tiết niệu, liên hệ lá lách, tỳ kinh. Chủ trị: suy nhược cơ thể, tiểu ít, tiểu nhiều, bi tiểu, tiểu nóng gắt, đau vung lách, xuất huyết, rong kinh, chảy máu dạ dày, tay chân nặng nề, bại phù, nặng đầu, đau dây thần kinh tam thoa, nhiều đờm nhớt, suyễn do Tỳ, liệt dây thần kinh số 7 ngoại biên (liệt mặt), sưng bầm té ngã do va chạm chấn thương…

    Huyệt số 1 trên đường dọc mũi, trên tuyến VII đường nối 2 huyệt số 0. Tác dụng; an thần, làm dịu thần kinh, điều hòa nhịp tim, giảm tiết dịch, tăng huyết áp, thăng khí (đưa khí lên), tăng lực (tăng cường sinh lực, làm khỏe người), làm ấm người, làm cường dương, giảm đau, giảm đau cột sống, tương ứng huyệt Huyền xu (chống chỉ định huyết áp cao). Chủ trị: suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, đau cột sống, không cúi ngửa được, cụp xương sống, đau bụng do lạnh, tiêu chảy, kiết lỵ, đau thần kinh tọa, suy nhược sinh dục, liệt dương, tảo kinh, đau bụng kinh, trĩ, lòi dom, rong kinh, huyết trắng, sổ mũi, rối loạn nhịp tim, mệt, khó thở.

    Huyệt 73 trên đường dọc qua giữa con ngươi tuyến G, ngay bờ dưới của xương hốc mắt tuyến 6. Tác dụng: An thần, trấn thống, tiêu viêm vùng vú, ngực, mắt, kích thích tuyến sữa, buồng trứng, thăng khí, hành khí, hành huyết mạnh, làm nóng người, liên hệ Phổi, Thận, Tim, mắt, vú, mặt trong cánh tay, vai, lưng, chân, bàng quang, tương ứng huyệt Nhũ căn. Chủ trị: cơn đau ngực vùng tim, mất ngủ, ho khan, đau buồng trứng, thận, dịch hoàn, tiểu khó, tiểu nhiều, tiểu đêm, đau khớp vai cánh tay, đau nhức ổ mắt, sạn thận, nặng đầu (do lạnh) tắc tia sữa, sưng vú.

    Huyệt 106 nằm giữa huyệt 103 và huyệt 26. Tác dụng: An thần, trấn thống vùng răng hàm và vùng chẩm gáy, điều hòa nhịp tim, cầm mồ hôi, làm thông mũi, liên hệ Tim, vùng chẩm gáy. Chủ trị: bệnh về tim mạch, mất ngủ, ác mộng, nhức đầu vùng trán, vùng chẩm, nhức răng, đau nhức cổ, gáy, vai, lưng. Ra mồ hôi, nghẹt mũi, bướu cổ.

    Huyệt 103 ngay chính giữa trán, giao điểm giữa tuyến dọc O và tuyến ngang II. Tác dụng: tăng cường trí nhớ, trí thông minh, sự tập trung tư tưởng, sự hoạt động, an thần, thăng khí, giảm đau đỉnh đầu, giảm đau cột sống, làm tỉnh táo, sáng suốt, tương ứng đỉnh đầu, tương ứng huyệt Bách hội. Chủ trị: suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, kinh phong, nhức đỉnh đầu, kém trí nhớ, kém năng động, kém hăng hái, trĩ lòi dom, sa dạ con, thị lực kém, đau cột sống, nghiện thuốc lá, đau đầu do va chạm, chấn thương (nhẹ)

    1. Bạn nghĩ gì về hệ thống huyệt của Diện chẩn?

    Hệ thống huyệt của Diện chẩn sắp xếp rất hợp lý, khoa học theo tuyến dọc, tuyến ngang. Khi tìm huyệt nào đó chỉ cần đối chiếu theo tuyến dọc: O,A,B,C,D,E,G,H,L,K,M,N,P,Q. Theo tuyến ngang theo chữ số: 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12. Đồ hình trắc diện cũng như đồ hình chính diện.

    Các huyệt sau tai như: 14,204,15,203,56,55,54,202,201,200 đã được vẽ riêng ở cạnh rất rõ.

    Khi tìm một huyệt nào đó ta kết hợp bảng tìm 1 huyệt trên mặt theo phương pháp Diện chẩn – Điều khiển liệu pháp của Thầy Bùi Quốc Châu.

    1. Bạn nghĩ gì về các phác đồ hỗ trợ trong Diện chẩn?

    Trong 15 kỹ thuật điều trị trong Diện chẩn, các phác đồ hỗ trợ giúp cho việc điều trị bệnh từ gốc. Khi điều trị bệnh ta nên kết hợp phác đồ hỗ trợ và phác đồ đặc hiệu. Từ tác động phác đồ hỗ trợ trước giúp cho thể trạng bệnh nhân được cải thiện tốt hơn. Sau đó tác động phác đồ đặc hiệu thì tốt hơn, đạt kết quả cao hơn. (ở đây tùy tình trạng và biểu hiện của bệnh nhân mà tìm các phác đồ tương ứng để tác động).

    1. Bạn thắc mắc điều gì nhất trong các tài liệu và bài giảng? Nêu ra những gì bạn khó hiểu và không làm được?

    Thầy giảng em hiểu được, tuy nhiên những ngày đầu vì danh từ địa phương e tiếp thu không nhiều, những ngày sau em đã hiểu được bài giảng của Thầy.

    1. Bạn nghĩ gì về các dụng cụ của Diện chẩn?

    Các dụng cụ của Diện chẩn được Thầy nghiên cứu rất tỉ mỉ, mỗi dụng cụ chữa ở nhiều bệnh, vị trí trên thân thể khác nhưng đều có tính khoa học. Các dụng cụ lại được làm bằn các chất liệu rất tốt, chắc chắn. Dụng cụ còn phân biệt khi sử dụng mang tính âm hoặc dương có các cơ chế nóng lạnh khác nhau, điều trị cho phù hợp từng trường hợp thân nhiệt người bệnh.

    1. Khi dùng các dụng cụ, bạn thích nhất phương thức tác động nào? Lăn, gõ, ấn, dán, châm? Hãy kể ra và nói lý do tại sao?

    Tôi thích nhất là phương thức xâm mứt gừng, vì phương pháp này dễ làm và đạt kết quả cao. Xâm trên mặt và toàn thân, chữa được nhiều bệnh, nhanh chóng, không đau, dễ làm, hiệu quả trên nhiều bệnh khác nhau, giảm đau cho nhiều bệnh khác nhau như ở bất cứ bộ phận nào: sỏi thận, bàng quang, thần kinh tọa, thoát vị đĩa đệm, tiểu gắt, tiểu són nhiều lần trong ngày, u xơ tuyến tiền liệt, táo bón, đau cột sống, đau thắt lưng, viêm khớp, cột sốt, bệnh gout, đau đầu, cảm, sốt,…

    Thủ pháp này giải quyết được nhiều bệnh khác nhau vì nó có tác dụng tán khí mà nền tảng của Đông y là khí hóa (vạn vật đều do khí mà hóa thành, kể cả vũ trụ). Vì vậy ta dùng cây dò có đầu nhỏ bi mà xâm như xâm gừng làm mứt, nó tạo ra tác dụng làm khí tản ra (tán khí) tức là khí ở khối u, chỗ bế tắc cho    đau, nhức, nhói hay khí tụ thành khối u, hòn cục sẽ tan đi chỗ đau sẽ trở lại bình thường như trước khi chưa có bệnh (Đó là cơ chế bệnh học theo Đông y giải thích tại sao xâm mứt gừng cắt cơn chữa bệnh nhanh như vậy). Ngoài ra ta còn xâm bất cứ chỗ nào trên cơ thể chứ không chỉ xâm gián tiếp trên mặt.

    Theo luật toàn thể, toàn diện dau ở bộ phận nào ở chân ta còn đồ hình phản chiếu cả cái chân gồm mông, háng, vai, đầu gối, cẳng chân, bàn chân vì theo Diện chẩn (tất cả là một, một là tất cả, Thuyết Nhất nguyên luận).

    1. Bạn nghĩ gì về các đồ hình (phản chiếu – đồng ứng) của Diện chẩn?

    Hệ thống đồ hình phản chiếu đồng ứng giữa các bộ phận nội tạng và ngoại vi cơ thể là một trong các lý thuyết quan trọng của phương pháp Diện chẩn – Điều khiển liệu pháp. Bộ phận nào có hình dạng giống nhau hay tương tự nhau thì có mối liên hệ mật thiết với nhau và có thể tác động lẫn nhau, ví dụ: sống lưng, sống mũi, cổ họng, cổ tay, cổ chân, bàn tay, bàn chân,… Về hình dáng cũng có rất nhiều tương tự nhau, đó không phải là ngẫu nhiên, nó có ý nghĩa quan trọng Thầy Bùi Quốc Châu đã tìm ra. Những bộ phận có hình dáng giống nhau hay tương tự           với nhau (đồng hình) có sự liên hệ mật thiết tìm về với nhau, kết nối và tác động lẫn nhau. Những gì có tính chất tương tự nhau (đồng hình) cũng có mối liên hệ mật thiết thu hút nhau và tác động lẫn nhau tăng cường hóa giải hiệu quả, điều trị lẫn nhau. Khi được tác động đó chính là ý nghĩa nếu đúng của thuyết đồng ứng. Muốn làm tốt việc này, em phải đọc đi đọc lại nhiều lần. Em nhìn vào các đồ hình phản chiếu, đồng ứng em tìm được các vùng phản chiếu dễ dàng.

    1. Bạn có đề nghị gì với sách học và cách giảng dạy?

    Em nghĩ phương pháp chữa bệnh của Thầy là phương pháp chữa bệnh đặc biệt có 1 không 2 ở trần gian này, ở trên thế giới không đâu có. Học qua phương pháp này ta biết cách để phòng bệnh, ngăn ngừa bệnh cho bản thân, nếu có bệnh biết cách chữa cho mình và người thân trong gia đình. Ngoài ra có thể chữa bệnh cho người lân cận và trường hợp ta gặp. Phương pháp chữa bệnh của Thầy đã làm cho từ một người bệnh trở thành 1 Thầy thuốc cho chính mình.

    Diện chẩn – Điều khiển liệu pháp còn là học thuật của Việt Y Đạo. Khi ta học Diện chẩn, Âm dương khí công, Ẩm thực dưỡng sinh, Thể dục tự ý, Thai giáo Việt Nam là chúng ta học về đường hướng, triết lý về y lý của y học (y đạo) chứ không chỉ là các y học (y thuật). Học Việt y đạo là ta học nghệ thuật sống, giúp ta có khả năng tự bảo vệ sức khỏe, chữa bệnh cho bản thân mà còn có một nhân sinh quan về thế giới cởi mở, có khả năng nhìn nhận sự việc dưới nhiều khía cạnh khác nhau luôn quan tâm tới đồng loại.

    Tương lai của Diện chẩn – Điều khiển liệu pháp Bùi Quốc Châu mở ra một chân trời tươi sáng trên toàn thế giới một cách nhanh chóng theo cấp số nhân. Lợi ích của nó vô cùng to lớn, người người biết chữa bệnh, phòng bệnh. Để bảo vệ và chăm sóc sức khỏe làm cho cuộc sống tốt hơn, hạnh phúc hơn, xã hội loài người vật chất tăng trưởng, xã hội ngày 1 văn minh, công bằng hơn, giúp con người biết loại bỏ thói xấu, ích kỷ, kiêu căng, tự phụ. Người với người bác ái hơn, biết chia sẻ với nhau niềm vui cũng như nỗi buồn. Xã hội loại bỏ dần những điều tiêu cực, những điều tích cực ngày càng tích cực hơn, như vậy trên hành tinh này loài người có được nước trời, tràn ngập hạnh phúc, mọi người biết quý trọng, bảo vệ quy luật tự nhiên của trời đất, đã biết sử dụng vật chất và chia sẻ vật chất cho nhau một cách hợp lý, hợp đạo trời.

    11.Từ khi áp dụng phương pháp này, bạn đã tiết kiệm được bao nhiêu tiền?

    Từ khi áp dụng phương pháp này từ năm 2012, tôi không phải mua một viên thuốc nào. Trước đó tôi hay bị viêm họng, đau đầu gối, đi đứng khó khăn, mất ngủ, … Tính bình quân ít nhất mỗi tháng cũng phải mua 100.000 đồng tiền thuốc.

    4 năm x 12 tháng x 100.000 đồng = 4.800.000 đồng

    12.Những điều gì giáo viên hay nhắc đi nhắc lại trong lớp?

    Thầy thường nhấn mạnh cho học viên biết là phương pháp chữa bệnh bằng phương pháp Diện chẩn – điều khiển liệu pháp là của người Việt nam, của Thầy Bùi Quốc Châu, là công dân nước Việt Nam. Mang tính đặc thù Việt Nam (phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc, không dùng kim châm như phương pháp cổ truyền Đông y). Đây là phương pháp có 1 không 2 của Thầy trên thế giới. Từ khi phương pháp Diện chẩn – Điều khiển liệu pháp ra đời đến ngày nay đã được. Huyệt đầu tiên Thầy Bùi Quốc Châu phát hiện ra (là ngày 26/3/1980). Hiện nay phương pháp này đã có mặt ở trên 20 nước sử dụng phương pháp này. Ở trong nước hầu khắp các tỉnh có người sử dụng phương pháp này để chữa bệnh cho bản thân và phòng bệnh và cho người thân quen. Vậy mà còn không ít người ngộ nhận phương pháp này xuất xứ từ Trung Quốc và Diện chẩn chỉ là phát triển từ môn Diện chẩn của Trung Quốc chứ không phải phát minh y học gì cả. Việc này đúng với câu ông bà ta thường nói “Bụt chùa nhà không thiêng” người Việt Nam ta cách nhìn thường là thấy cái gì ở nước ngoài đem vào Việt Nam cũng tốt hơn trong nội địa. Chúng ta thừa nhận rằng trình độ nhiều mặt còn thua kém họ, học hỏi họ. Song Việt Nam ta cũng có thứ mà họ phải mua của Việt Nam mặc dù họ là nước có trình độ phát triển cao. Ví dụ như Nhật Bản là nước phát triển trình độ cao còn phải mua thương hiệu cà phê Trung Nguyên của Việt Nam, dân ta hay tự ti, hay mặc cảm. Cũng may ngày nay, việc này đang giảm dần trong xã hội của ta. Diện chẩn là một phát minh khoa học y học của Việt Nam không phải của Trung Quốc. Người phát minh ra phương pháp này là GS.TS Bùi Quốc Châu là công dân nước Việt Nam. Chính các tài liệu y học chính thức của Trung Quốc cũng đã công nhận rằng đây là phương pháp chữa bệnh của học giả nước ngoài (ngoại quốc) chứ không phải của Trung Quốc. Cách cụ thể, cho ta thấy từ năm 2000 đến năm 2002 đã có ít nhất 2 quyển sách về Diện chẩn được in bằng 2 thứ tiếng khá phổ biến trên thế giới là tiếng Pháp va Tây Ban Nha. Theo dự tính sẽ có thêm một số sách Diện chẩn in bằng tiếng Ý, tiếng Đức trong năm 2003 với tựa đề tạm dịch là: Diện châm – Một phương pháp phản xạ vùng mặt của Việt Nam, làm cho nhiều người ngạc nhiên (Diện chẩn – Diện châm là tên gọi trước đây của Diện chẩm – Điều khiển liệu pháp), Sách này bán rất chạy ở các nước Pháp, Canada,.. đã in tới 10.000 quyển đã được đọc giả Pháp, Canada và giới chuyên môn đón nhận. Ngoài ra nhiều người truy cập Internet, google, tìm trang web về Bùi Quốc Châu sẽ tìm thấy hàng loạt thông tin về Diện chẩn bằng 5 thứ tiếng: Pháp đức, Anh, Thụy điển, Nhật Bản và những công trình khác của tác giả Bùi Quốc Châu. Cũng theo các bản tin này thì Cu Ba đã và đang áp dụng Diện chẩn cho các bác sỹ gia đình (Family doctor) suốt 15 năm qua. Đó chẳng phải là điều đáng mừng ư! Đáng tự hào cho nền y học Việt Nam sao? Điều đáng tự hào của tác giả là: người Việt Nam đã tiếp nhận nhiệt tình, hưởng ứng và tin tưởng áp dụng phương pháp Diện chẩn của nhân dân Việt Nam ở trong nước cũng như ở nước ngoài trong suốt 23 năm (tính đến năm 2003). Đây là một phương pháp mang tính dân tộc, khoa học, đại chúng, kinh tế và an toàn.

    Diện chẩn chữa bệnh không dùng thuốc, không dùng kim châm khi trị bệnh tinh thần của tác giả: Biến bệnh nhân thành Thầy thuốc, biến người bệnh thành người chữa bệnh.

    Thầy còn luôn nhắc cho học viên biết phải nắm chắc sinh huyệt và đồ hình. Sinh huyệt và đồ hình là chìa khóa vạn năng của phương pháp chưa bệnh Diện chẩn – Điều khiển liệu pháp.

    13.Trong 20 điều lợi ích sau khi học Diện chẩn, bạn được bao nhiêu điều?

    Em đã đạt được 19 điều lợi ích khi học Diện chẩn.

    14.Bạn nghĩ gì về phác đồ Tình thương 26 – 60 và các môn Huyền công trong Diện chẩn?

    Em thấy rất kỳ lạ: muôn vật muôn loài tạo hóa sinh ra trong vũ trụ này có sự liên hệ với nhau, tác động đến nhau. Nếu ta yêu thương thiên nhiên, không phá hủy, sự cân bằng sinh thái thì ta ít gặp các tai họa, như hạn hán cực đoan, khí hậu  trái đất ngày 1 nóng lên.

    Phác đồ tình thương 26-60 của Thầy Bùi Quốc Châu cũng nằm trong quy luật của tạo hóa mà Thầy đã phát hiện được. Còn người học và chữa bệnh, có đặt trọn vẹn niềm tin này không hay chỉ có tin thì mới chữa được bệnh và cho kế quả khác nhau. Không tin không bao giờ chữa được bệnh. Ở đây tôi thấy tạo hóa chỉ có thể trao ban những ân huệ của người cho những người có lòng dũng cảm, có niềm tin sắt son, có tình bác ái, yêu thương và chia sẻ cho đồng loại, tôn trọng tự nhiên. Thầy Bùi Quốc Châu đã hội tụ đủ thuận ý trời đất. Nếu ta học phác đồ Tình thương 26-60 có tin có tâm hồn trong sáng, có tình bác ái chúng ta chữa bệnh cộng với niềm tin của bệnh nhân, chắc chắn việc chữa bệnh theo phác đồ Tình thương 26-60 sẽ đạt kết quả.

    1. Niệm công: Chữa bệnh bằng cách đọc số huyệt.
    2. Ảnh công: Chữa bệnh bằng việc tác động bằng nhiều hình thức khác nhau như cơ thể, đồ hình, huyệt đạo của Diện chẩn qua hình chụp X-quang, qua màn hình điện thoại, máy chụp ảnh, màn hình máy tính,…
    3. Phóng công: dùng 5 ngón tay búng vào bộ phận có bệnh của bệnh nhân.
    4. Chỉ công: dùng ngón tay chỉ cách không vào vị trí huyệt đạo hay bộ phận đang bị bệnh.
    5. Đàn chỉ thần công: dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái búng vào chỗ có bệnh.
    6. Ý công: dùng ý nghĩ tác động đến các huyệt dạo để chữa bệnh
    7. Ngôn công: chữa bệnh qua việc dùng lời nói.
    8. Thủy công: dùng nước để chữa bệnh.
    9. Nhãn công: chữa bệnh bằng ánh mắt.
    10. Khoán công: dùng ngón tay hay ý nghĩ viết chữ trên bộ phận đang bệnh.
    11. Tự công: dùng chữ viết trên giấy để trị bệnh (thư pháp trị liệu).
    12. Phách công: Chữa bệnh qua cách phẩy tay vào bộ phận có bệnh của bệnh nhân
    13. Thập tự công: dùng ngón tay trỏ vạch dấu thập (+) trên bộ phận có bệnh.
    14. Xoắn công: dùng ngón tay trở vẽ hình xoắn trôn ốc trên bộ phận có bệnh.
    15. Hỏa công: dùng sức nóng để chữa bệnh (hơ)
    16. Xuy công: Thổi, hà hơi trên vùng bị đau để chưa.
    17. Hoàn công: ngón tay vẽ vòng tròn cách không trên vùng cơ thể bệnh hoặc nơi đang bệnh, vẽ theo chiều kim đồng hồ là dương, ngược chiều kim đồng hồ là âm.
    18. Áp công: lấy que dò tại vùng đau để tìm sinh huyệt. Ấn ngón tay vào sinh huyệt đã tìm để truyền điện lực (có được qua quá trình tập luyện Âm dương khí công) vào vị trí ấy từ 1 phút đến 1 phút rưỡi.
    19. Áp chỉ công: áp bàn tay lên nơi da vùng bộ phận đang bị đau.
    20. Áp chỉ công: để nhẹ ngón tay lên sinh huyệt đau nhiều nhất ở bộ phận đang có bệnh 1 phút.
    21. Khoát vân công (vén mây): dùng 2 bàn tay khoát qua 2 bên đau (như đầu).
    22. Bốc công: Bốc nưng lượng xấu vứt xuống đất.
    23. Thở Âm dương khí công trên cơ thể bệnh nhân.
    24. Trị bệnh người này qua cơ thể người khác. Vận dụng Nhất nguyên luận: tất cả là một như trị con qua mẹ hoặc người lớn thì trị bệnh qua cơ thể mình.
    25. Trị bệnh bằng tin nhắn (SMS) hoặc email.

    15.Bạn hãy hình dung sự phát triển và thay đổi của con người trong xã hội trên thế giới khi có hàng tỷ người sử dụng Diện chẩn trong 100 năm nữa?

    Trong khoảng 100 năm nữa trên thế giới hàng tỉ người sử dụng phương pháp chữa bệnh Diện chẩn – Điều khiển liệu pháp. Bộ mặt thế giới được thay đổi tích cực: con người sống hạnh phúc hơn, bác ái hơn, khỏe mạnh hơn, vui tươi vì đạo làm người, biết tôn trọng sự thật, bảo vệ sự thật, dũng cảm và kiên cường, nhanh nhẹn, kiên trì, nhẫn nại, biết chia sẻ cho nhau, sống tự do, công bằng và văn minh, người người tự làm chủ bản thân mình, tiêu cực bị đẩy lui.

    Như vậy loài người đã có lối sống tốt, khỏe mạnh. Bệnh tật bị đẩy lùi, vật chất dồi dào, nhờ vào những khoản tiền không phải chữa bệnh. CÁc ngành khoa học phát triển ở trình độ cao. Diện chẩn – Điều khiển liệu pháp sẽ làm thay đổi toàn bộ mặt trái đất theo hướng tích cực. (Nước thiên đàng đã hiển hiện tại hành tinh chúng ta).

    16.Bạn nghĩ gì về Thầy Bùi Quốc Châu?

    Thầy Bùi Quốc Châu là người sống có phong độ, khoáng đạt, tự tin, giản dị, hòa đồng với mọi người, mọi thành phần, mọi lứa tuổi, giới tính. Ai tiếp xúc với Thầy cũng cảm thấy nhẹ nhàng, vui tươi, thoải mái. Thầy Châu rất khiêm tốn, không bon chen, Thầy có tâm hồn trong sáng, vị tha, có ý tưởng lớn lao, có sự kiên cường vượt khó. Trải qua một thời gian học lớp Diện chẩn – Điều khiển liệu pháp khóa 141 năm 2016 tại Trung tâm Việt Y Đạo, em thấy Thầy là một nhà khoa học tài ba của nhân dân Việt Nam trong ngành y tế, chữa bệnh không dùng thuốc. Bộ môn này của Thầy phát minh ra đã giúp cho các giới lao động đặc biệt là những người Việt Nam ở trong nước cũng như ở nước ngoài có mức sống trung bình thấp. Rất biết ơn và quý trọng Thầy. Vì tư tưởng cũng như hành động của Thầy đã thể hiện lòng bác ái, vô vụ lợi. Mong ước của Thầy là mọi người Việt Nam đều biết chữa bệnh bằng phương pháp Diện chẩn – Điều khiển liệu pháp không dùng thuốc. Tư tưởng biến người bệnh thành người chữa bệnh, biến bệnh nhân thành Thầy thuc. Như vậy mọi người đều biết cách tự bảo vệ sức khỏe của mình, chữa bệnh cho mình. Đời sống sức khỏe được cải thiện. Sống vui vẻ hơn, sống có nhiều hi vọng tích cực ở phía trước, niềm tin được củng cố, trí tuệ phát triển, thông minh hơn.

    Thầy Châu là người rất giản dị nhưng trí tuệ của Thầy thật vĩ đại!

    Em rất tự hào về Thầy.

    17.Bạn nghĩ gì về Tâm ngôn của Thầy Bùi Quốc Châu?

    Tâm ngôn của Thầy Bùi Quốc Châu đã dạy cho học viên Diện chẩn có một đường hướng, một tư tưởng xuyên suốt quá trình của Diện chẩn (Việt Y Đạo). Phải lấy đạo đức làm đầu, nó là nền tảng, là nền móng ta phải rèn luyện đức hạnh cho tốt mới có thể làm Thầy thuốc được, cụ thể ta phải có lương tâm trong sáng không vì một lợi ích cá nhân, đam mê những điều bất chính, phải dốc tâm tận lực phục vụ người bẹnh, phải thương người như thể thương thân. Phải biết vận dụng một cách khôn ngoan, linh hoạt trong y thuật (Tùy) hoàn cảnh của từng loại bệnh mà vận dụng các dụng cụ, các phác đồ, các đồ hình, sinh huyệt, phản chiếu kết quả mới đạt được.

    Thầy còn dạy chúng ta cách học Diện chẩn – Điều khiển liệu pháp một cách rất khoa học. Việt Y Đạo, đạo đã là nền móng rồi, bây giờ đạo dẫn y thuật đi từ từ từng bước vững chắc, không được học vội vàng, không được nôn nóng, phải đọc bài kỹ, phải hiểu tốt thì ta mới tiến lên học bước 2. Ví dụ bài thứ nhất là điểm tựa của bài thứ 2, Muốn học giỏi thì phải học chậm, Khoa học mà không có tâm chẳng khác nào người khổng lồ không có tim. Tư tưởng Việt Y Đạo là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình từ điểm xuất phát cho tới suốt chiều dài quá trình phát triển của Việt Y Đạo… Nó  là sự chỉ đạo mọi người Thầy chữa bệnh không dùng thuốc của Thầy Bùi Quốc Châu.

    18.Sau khi học xong khóa căn bản này, bạn có ước muốn sẽ làm gì trong tương lai?

    Sau khi học xong khóa cơ bản này, em sẽ học tiếp khóa nâng cao để được hiểu biết Diện chẩn – Điều khiển liệu pháp, Việt Y Đạo hơn. Em sẽ về chữa bệnh và truyền bá Diện chẩn ở địa phương  em cho những ai muốn tìm hiểu về Diện chẩn.

    19.Thế giới quan và nhân sinh quan của bạn sau khi học xong?

    Thế giới quan của em được cởi mở hơn. Em thấy có nhiều tích cực hơn. Những gì tiêu cực trong quá khứ em xóa hết đi, coi như là không có. Em hướng về tương lai để phát triển những điều tốt đẹp, đem lại sự hiểu biết của mình chia sẻ cho mọi người.

    20.Sau khi học xong bạn muốn trở thành chuyên gia chữa bệnh gì?

    Sau khi học xong em muốn đi sâu vào hệ thần kinh đa hệ.

    21.Bạn nghĩ gì về hào quang của Thầy?

    Em nghĩ Thầy là người đã hội tụ đủ những điều cần mà tạo hóa đã mong muốn. Con người phải tuân thủ những quy luật của trời đất, phải tôn trọng và phát huy tốt hơn, hoàn chỉnh hơn trong mọi lĩnh vực là cho trái đất này ngày một xinh đẹp hơn. Hạnh phúc giữa trời và đất, giữa người và muôn loài sinh vật tương tác lẫn nhau một cách cân bằng.

    Thầy đáng lãnh nhận hào quang của trời đất. Em là học viên của Thầy ít nhiều cũng được Thầy chia sẻ hào quang của Thầy cho mỗi người chúng em. Và chúng em lại đem hào quang của Thầy chia sẻ cho những người muốn đón nhận . Hào quang của Thầy qua việc học Diện chẩn – Điều khiển liệu pháp, Âm dương khí công củ Việt Y Đạo.

    22.Bạn hãy so sánh sự giống và khác nhau giữa các đồ hình phản chiếu và đồ hình đồng ứng trong Diện chẩn?

    Khi chữa bệnh trên đồ hình phản chiếu là ta chẩn đoán bệnh trên vùng da mặt và toàn thân. Bằng cách tác đọng lên những vùng, điểm nhậy cảm gọi là sinh huyệt và các vùng tương ứng các bộ phận bị bệnh trên toàn thân ta gọi là đồ hình phản chiếu. Hoặc có thể định nghĩa Diện chẩn là phương pháp chẩn đoán các dấu hiệu về tình trạng sức khỏe của con người trên khuôn mặt từ đó phát hiện và ta tác động để gia tăng sức khỏe, phòng và trị các chứng bệnh. Khuôn mặt được xem như là điểm thông tin và kiểm soát toàn thể cac hoạt động của cơ thể. Dựa trên sự phản chiếu của đồng ứng với các bộ phận ngoại vi và nội tạng của cơ thể. Mỗi điểm phản xạ trên khuôn mặt sẽ phản ánh một cơ quan tương ứng, từ cơ sở này ta có thể tác động lên các huyệt đạo trên khuôn mặt để tạo sự biến chuyển trên các cơ quan đó.

    Hiện nay Diện chẩn không chỉ là chẩn đoán trên khuôn mặt mà dựa trên thuyết đồng ứng đã mở rộng ra việc chẩn đoán và trị liệu ra toàn thân. Đặc biệt là bàn tay, cánh tay,,.. từ đó có thể tác động lên bàn tay, bàn chân, cánh tay, cổ tay để hỗ trợ việc điều trị, trị liệu các vấn đề về sức khỏe của toàn thân. Vì Diện chẩn là một dạng phản xạ đa hướng và đa hệ, nó khác với phản xạ học cổ điển có tính chất nhất hướng.

    23.Bạn hãy so sánh sự khác nhau và giống nhau giữa các dụng cụ Diện chẩn?

    Diện chẩn – Điều khiển liệu pháp là phương pháp chữa bệnh đa dạng, dưới nhiều hình thức chuẩn đoán và trị bệnh, nên dụng cụ trị bệnh cũng phải chuyên biệt, có trên 100 dụng cụ. Nếu so với các phương pháp tương tự trong lĩnh vực phản xạ học: bấm huyệt, xoa bóp, châm cứu trên thế giới, với bộ dụng này, dễ sử dụng, ai cũng sử dụng được. Như vậy người bệnh có thể chữa bệnh cho mình và cho người khác sau một thời gian học rất ngắn ngày. Như vậy tác giả đã đạt được ý nguyện (chủ trương mình đặt ra : biến bệnh nhân thành Thầy thuốc).

    Bộ dụng cụ này là công cụ đắc lực giúp cho việc điều trị bệnh đạt hiệu quả cao, an toàn, ít tốn kém với hầu hết các bệnh thông thường và một số bệnh khó, hiểm nghèo. Các dụng cụ này do chính Thầy Bùi Quốc Châu và Lương y Bùi Minh Tâm sáng chế. Thiết kế bằng các vật liệu cao cấp như Inox, đồng, sừng, gỗ quý và nhựa cao cấp, đạt tính mỹ thuật cũng như sự bền chắc. Bộ dụng cụ chia thành các nhóm với hình dạng riêng với cách tác động khác nhau. Ví dụ các cây dò Inox dùng để ấn và day, các cây cào, bàn cào có hình dạng giống bàn chải dùng để cào, chải; các cây có hình trụ, hình cầu hay hình trục dùng để lăn; cây búa có 2 đầu bằng cao su và 1 đầu inox dùng để gõ; các miếng nhựa dùng để cạo gió,…

    Đặc biệt hơn nữa đây là bộ dụng cụ có sự phân biệt hai tính chất âm và dương. Trong chất liệu và qua cách sử dụng nhằm đạt kết quả tối ưu khi điều trị bệnh, phù hợp với thể trạng nóng (dương) hay lạnh (âm) của người dùng.

    Các dụng cụ có kết cấu bằng sừng hay nhựa cao cấp (quả cầu gai) hay các thanh Inox (cây ấn huyệt) mang tính dương (nhiệt, nóng) phù hợp với người có thể tạng âm (hàn mát) hay có hiệu quả tốt hơn khi tác động và làm ấm, nóng cơ thể, lưu thông khí huyết và ngược lại.

    Các dụng cụ bằng đồng, cây lăn đồng, lăn đinh có tính âm (mát) phù hợp với người bệnh có thể trạng dương (nóng) và có hiệu quả tốt với bệnh sốt, nóng,… Vì vậy khi điều trị người sử dụng phải chú ý đến tính chất này để điều trị đạt kết quả cao. Dụng cụ chữa bệnh cũng là thuốc chữa bệnh. Dụng cụ này chữa bệnh an toàn, không gây tổn thương cho da. Dụng cụ có hình dạng thanh nhã, giá thành vừa phải nên cũng góp phần tích cực việc tự phòng bệnh và chữa bệnh.

    *Báo cáo về Âm dương khí công

    Âm dương khí công – một phương pháp Tâm – Ý – Trí – Lực của Việt Nam. Âm dương khí công là công phu luyện thở nhằm điều chỉnh 2 khí âm và dương trong hai mạch nhâm và đốc.

    Đây là phép thở được điều khiển bằng “Ý”, không phải thở bình thường bằng phổi. Không cần quan tâm đến lượng ô xy vào phổi nhiều hay ít, chỉ quan tâm đến làn hơi tưởng tượng chạy trên hai mạch nhâm, mạch đốc vào lúc tập thở.

    Đây là lối thở yếm khí, nên khác với một số lối thở khác, thay vì thở dài, sâu như ở các phương pháp khí công khác, ở đây ta thở là êm nhẹ, ngắn cạn. Do đó ta không cần cố hít vào thật nhiều ô xy hay thở ra cho hết khí cacbonic như một số phương pháp thở hiện nay. Trái lại ta nên thở ra hít vào một cách kín đáo, vừa phải, nhẹ nhàng, như con rùa thở (quy tức).

    Tất cả động tác đều tự nhiên, không được gắng sức, thái quá mà phải làm vừa sức mình. Tuyệt đối tránh mọi cố gắng đưa đến mệt nhọc cho cơ thể khi tập thở. Nói cách khác, trong lúc thở hay sau khi tập thở một thời gian (tối đa là một tuần) nếu thấy khỏe là đúng. Nếu thấy mệt hoặc không thấy chuyển biến là đã tập không đúng phương pháp.

    Tóm lại chủ yếu của phương pháp là luyện ý để điều tức chứ không phải luyện hơi. Thở như thế nào người ngoài nhìn vào thấy như không thở, dùng ý không dùng lực. Có thể nói thở như không thở mới gọi là thở Âm dương khí công.

    Nắm vững nguyên lý: Tâm – Ý – Khí – Lực. Ý dẫn khí, khí dẫn huyết, huyết dẫn lực.

    Biện chứng của Đông y: Âm dương mất quân bình sinh bệnh, chữa bệnh là lập lại quân bình âm dương. Cực dương dinh âm, cực âm sinh dương, vật cực tất phản, vật động tắc biến, nhân thân tiểu thiên địa, thiên nhiên hợp nhất, vạn vật nhất thể, thông bất thống mà thống bất thông.

    Sau khi luyện tập theo phương pháp trên, em thấy trong người rất hưng phấn, hăng hái, lạc quan, yêu đời, tính tình có chút thay đổi, trí tuệ thông minh hơn, nhận xét sự việc xung quanh, giải quyết công việc mau gọn. Trong người khỏe mạnh, ăn ngon miệng, mau đói, cơ bắp săn chắc, làm việc dẻo dai, phản xạ, đi đứng nhanh nhẹn hơn, làm việc tự tin, thân nhiệt nóng ấm, trung tiện nhiều, tiểu tiện ít, đại tiện tốt, ngủ ngon giấc, giấc ngủ sâu.

    Đó là kết quả của em sau khóa học Diện chẩn – Điều khiển liệu pháp, Âm dương khí công do Thầy Bùi Quốc Châu dạy.

    Em chân thành cảm ơn Thầy

    Ngày 06 tháng 10 năm 2016

    Chia sẻ:
    Bài viết khác:
    Zalo
    Hotline
    DMCA.com Protection Status