Bài TH khóa 137/2016 – HV TRỊNH XUÂN TUYẾT

Bài TH khóa 137/2016 – HV TRỊNH XUÂN TUYẾT
Ngày đăng: 27/01/2021 11:43 AM

    Họ tên: TRỊNH XUÂN TUYẾT

    Sinh ngày: 03-03-1979

    Trình độ: Thạc sĩ

    Nghề nghiệp Giảng viên

    ĐT: 0906392560

    Địa chỉ: Chung cư 518, Võ Văn Kiệt, p. Cầu Kho, Q1, HCM.

    Email: trinhxuantuyet@gmail.com

     BÀI THU HOẠCH

    Câu 1: Từ khi học cho đến nay, em đã làm được 01 ca bệnh cho mình và 03 ca bệnh cho người nhà. Tỷ lệ thành công là 80%.

    Ca đầu tiên là tự chữa bệnh cảm, đau họng và sổ mũi theo cách đánh 6 vùng phản chiếu, dò tìm và ấn sinh huyệt trên vùng mũi, xoa dầu ở hai bên cánh mũi, nơi quầng mắt và hai bên dái tai. Thực hiện liên tục trong vòng 5 ngày thì hết.

    Ca tiếp theo là chữa viêm mũi họng dị ứng do thời tiết cho con trai 9 tuổi. Cháu bị viêm mũi từ bé (từ khi mới sinh đã phải nhập viện 1 tuần do viêm phế quản) nên quanh năm luôn bị sổ mũi, nghẹt mũi và ho đàm. Đi khám và trị ở bệnh viện thì chỉ hết trong vòng vài tuần lại tái phát, không dứt. Bác sĩ có bảo đây là bệnh viêm mũi dị ứng, thuộc loại mãn tính không trị dứt được. Từ khi biết phương pháp DC đã bắt đầu chữa trị cho cháu theo cách tìm sinh huyệt, xoa dầu và dán salonpas mỗi tối trước khi ngủ, kết hợp với việc quay cổ tay mỗi ngày. Cho đến nay được gần 1,5 tháng thì cháu đã bớt rất nhiều và hoàn toàn không dùng bất kỳ viên thuốc nào. Mỗi sáng cháu không còn chảy nước mũi và ho nữa.

    Hai ca còn lại là chữa đau gót chân cho bé 10 tuổi do chơi thể thao nhiều và đau cổ gáy cho người nhà. Phương pháp dùng cũng là dò sinh huyệt, ấn nhún, lăn, cào và dán salonpas. Vì bé mới bị đau nên chỉ làm một lần là hết hẳn, còn ca bị đau cổ gáy đã gần mười năm nên đang trong giai đoạn tiếp tục tiến hành. Kết quả ban đầu cũng rất khả quan (đã bớt đau nhiều) nhưng chưa dứt hẳn do chỉ thực hiện được 1 lần/ ngày và không được liên tục (do bệnh nhân bận và phải đi công tác xa nhiều ngày).

    Câu 2: Huyệt tâm đắc nhất là 26, 103, 14, 275, 1, 290 vì đây là những huyệt quen thuộc khi trị các bệnh về viêm xoang, ho, sổ mũi, cảm. Phác đồ thích nhất là 6 vùng phản chiếu vì giúp tinh thần tỉnh táo, ngủ ngon và tăng sức đề kháng nên mỗi ngày đều thực hiện để tăng cường sức khỏe.

    Câu 3: Nghĩ về hệ thống huyệt của DC, lúc đầu em thấy rất phức tạp, khó khăn nhưng khi thực hành qua vài phác đồ và được sự trợ giúp của tài liệu hướng dẫn tìm huyệt thì dần thấy quen thuộc và không khó nữa.

    Câu 4: Các phác đồ hỗ trợ rất có ích cho việc chữa trị. Tuy nhiên đây là phương pháp cũ và chỉ dùng để bổ trợ nên nếu chỉ dùng mỗi phác đồ sẽ gặp nhiều khó khăn và tự hạn chế tính linh hoạt của DC.

    Câu 5: Trong tài liệu DC, em cảm thấy khó hiểu và khó suy luận theo nguyên tắc giao thoa (tác động chéo). Tài liệu có nêu ví dụ là nếu đau cánh tay trái thì tác động lên cẳng chân mặt. Điều này thì em hiểu nhưng nếu đau mắt trái hay mỏi vai trái thì phải tác động lên bộ phận nào? Vì tài liệu không nói rõ phải làm sao để xác định trục và khoảng cách chéo.

    Câu 6: Dụng cụ của DC rất đa dạng, mỗi dụng cụ thích hợp với thể tạng người khác nhau nên phải biết chọn dụng cụ phù hợp với mình và người bệnh.

    Câu 7: Khi dùng dụng cụ em thích nhất là động tác lăn, ấn, day, cào, gõ, xâm và nhất dương chỉ. Tùy từng thể trạng người bệnh mà có phương thức xử lý khác nhau. Chẳng hạn đối với trẻ em thì dùng cách lăn, day phớt do các bé không chịu đau được. Với người lớn thì có thể dùng đủ biện pháp kể cả rung huyệt (chẳng hạn các huyệt ở mũi như 189, 1, 8) do vị trí khó thực hiện các động tác khác như ấn nhún hay day. Với người không có cảm giác khi tìm sinh huyệt thì có thể lăn toàn mặt vài lần hoặc gõ bằng búa khắp mặt để kích thích các huyệt.

    Câu 8: Các đồ hình phản chiếu – đồng ứng giúp tăng hiệu quả trị bệnh, sử dụng đơn giản, thuận tiện (chỉ cần mở tài liệu dò tìm hình phản chiếu tương ứng hay dùng 8 nguyên tắc trong DC để suy ra) nhiều khi là biện pháp để tìm ra cách chữa đúng và hiệu quả nhất.

    Câu 9: Giáo trình và sách học của DC rất đầy đủ, phong phú, rõ ràng và in ấn đẹp. Phương pháp giảng dạy theo cách nhấn trọng tâm, tập trung vào nguyên lý chính và học viên phải tự đọc tài liệu để nêu câu hỏi. Do trình độ học viên không đồng đều và đòi hỏi thời gian đọc trước tài liệu nên một số người không thể thích ứng với phương pháp và cảm thấy khó nắm bắt bài giảng.

    Câu 10: DC là cách chữa bệnh mới, hiệu quả, dễ thực hiện và phù hợp với tất cả mọi người, nhất là người nghèo không có điều kiện chữa trị đắt tiền. Điều trọng yếu nhất là không cần dùng thuốc và ai cũng có thể tự chữa bệnh cho mình mọi lúc, mọi nơi không cần mất nhiều thời gian, tiền bạc và lệ thuộc vào bệnh viện, bác sĩ, nhà thuốc. Chỉ cần mọi người tự mình chữa được các bệnh nhỏ như đau nhức, mệt mỏi, cảm, … và biết cách tăng sức đề kháng, tiêu viêm, giải độc thì sẽ không bị mắc những bệnh hiểm nghèo trong tương lai. Cơ thể không bị tác dụng phụ của thuốc tây cũng không sợ bị các di chứng về sau. Đây là kết quả lớn nhất mà DC mang lại, tưởng chừng như nhỏ bé như thật ra lại có thể xoay chuyển cả thể chất và tinh thần cho con người.

    Câu 11: Từ khi áp dụng DC, em đã không còn ghé qua nhà thuốc tây hay phòng khám, bệnh viện nhi đồng nữa. Trước đây cứ khoảng vài tuần là cứ phải đi khám bệnh hay mua thuốc cho bé ở nhà và dự trữ sẵn các thuốc như cảm, hạ sốt, tiêu chảy, giảm đau, men vi sinh, chống dị ứng,… nhưng bây giờ thì không cần thiết nữa. Em nhận thấy DC quả thật là liệu pháp chữa bệnh ít tốn kém nhất.

    Câu 12: Điều Thầy hay nhắc đi nhắc lại trong lớp là chữ “tùy”, tính linh hoạt trong DC và phải luôn hỏi xem người bệnh cảm thấy như thế nào sau khi chữa trị để có thể tìm cách hiệu quả nhất. Phương châm của DC là dựa trên nền tảng các lý thuyết để suy ra và tìm cách trị thích hợp cho từng loại bệnh và thể trạng từng người.

    Câu 13: Trong 20 điều lợi ích sau khi học DC, em đã có được sức khỏe tự phòng, chữa bệnh cho mình và cho cả người nhà. Em nhận thấy sự tự do khi làm chủ được sức khỏe cho cả nhà mà không cần lệ thuộc vào thầy thuốc và thuốc men như trước. Điều này giúp chi tiêu của gia đình tiết kiệm khá nhiều, cả nhà đều vui vẻ và chất lượng cuộc sống nâng cao.

    Câu 14: Đối với phác đồ tình thương 26-60, em đã sử dụng nhưng kết quả không khả quan lắm. Gia đình em ở chung cư nhưng không hiểu vì sao thằn lằn trong nhà lại cứ bò dưới nền chứ không bò trên tường như thường lệ. Tính em lại sợ chúng nên cảm thấy rất khó chịu nhưng không biết phải làm sao. Khi biết phác đồ 26-60 và được nghe các kinh nghiệm chia sẻ của các anh, chị trong lớp em đã thử nghiệm ở nhà. Lúc đầu, dù em đã hết sức chú tâm niệm và nói với chúng là “bò ra khỏi nhà của tôi” nhưng trong đầu lại nghĩ nếu không có thằn lằn thì nhà có bị nhiều kiến và muỗi không, hơi bị phân tâm như vậy nên đã không thành công. Em hơi nản nên sau vài ngày mới thử lại lần nữa, lần này thì không nghĩ đến kiến hay muỗi và khi niệm thì nhìn chăm chú vào con thằn lằn. Sáng hôm sau, em thấy chúng không bò dưới nền nữa mà đã bò lên tường. Ngặt nổi nhà em nhỏ nên khi chúng ở trên tường thì càng thấy gần mình hơn và lại sợ biết đâu nó lại rớt xuống thì sao. Thế nên em quyết tâm nhìn tập trung vào nó, vận dụng tất cả sức mạnh ý nghĩ để ra yêu cầu trên thì có kết quả là ít thấy hơn nhưng thỉnh thoảng vẫn còn. Do vậy cho đến nay mỗi khi nhìn thấy thằn lằn em vẫn niệm phác đồ 26-60, em đang thử xem sự nhẫn nại của mình có dẫn đến kết quả mong muốn hay không.

    Về các môn huyền công trong DC thì em đã dạy cho con làm được thủy công để bớt sợ hãi. Do bé hay phải ở nhà một mình khi em đi học buổi tối nên luôn có cảm giác lo sợ nào là kẻ trộm, bắt cóc, ma, … Em dạy bé lấy ly nước rồi niệm 26-60 và cầu xin có sức mạnh để bớt sợ hãi, xong rồi uống. Bé làm theo và bây giờ đã không còn sợ hãi hay bị mất ngủ nữa.

    Câu 15: Nếu trong 100 năm nữa có hàng tỷ người sử dụng DC thì ngành y tế và sức khỏe cộng đồng chắc chắn bước sang một trang mới và tiến vào thời đại khác. Thời đại mà con người bắt đầu đi tìm và khai phá các năng lực tiềm ẩn trong cơ thể của chính mình. Thật ra khoa học đã chứng minh, ngay cả trong thế kỷ văn minh hiện tại, khi con người đang bước vào nền văn minh tri thức thì vẫn chỉ mới sử dụng được 2%-10% năng lực của não bộ và trên thế giới vẫn có rất nhiều người có dị năng, năng lực phi thường mà khoa học chưa giải thích nổi. Những điều chúng ta biết, những điều mà khoa học đã chứng minh chỉ là một phần nhỏ bé của tảng băng trôi mà thôi. Thế giới vẫn tồn tại như nó vẫn có, chỉ là sự hiểu biết của con người vươn xa đến đâu. Có thể nói, ngay chính bản thân cơ thể của chúng ta đã là một kho tàng bí ẩn, một nguồn tài nguyên cần khai phá và DC chính là cánh cửa mở lối cho con đường ấy.

    Câu 16: Ấn tượng đầu tiên của em về Thầy Bùi Quốc Châu đó chính là một người Thầy thân thiện, luôn vui vẻ với nụ cười đầy hòa ái. Khi tham gia lớp học, nghe Thầy giảng em lại nhận ra tính cách “cố chấp” cố hữu của các nhà khoa học, cách “nghĩ khác đi” của những người thích sáng tạo và nhất là lòng “tự hào dân tộc” mà không phải ai cũng có, nghĩ được và hành động như Thầy.

    Câu 17: Tâm ngôn của Thầy rất cô đọng, ngắn gọn nhưng lại khiến người đọc phải suy ngẫm và khi càng hiểu lại càng thấy đúng. Có những điều thấy rất đơn giản, nhỏ bé mà ta hay bỏ qua lại chính là những bí quyết dẫn đến sự thành công. Tâm ngôn của Thầy chính là sự đúc kết của tri thức, kinh nghiệm, cách nhìn nhận, quan sát sự việc một cách tinh tế và tấm lòng hướng đến tha nhân nên rất có ích cho mọi người.

    Câu 18: Sau khi kết thúc khóa học em đã xem DC là phòng khám tự có để bảo vệ sức khỏe cho gia đình và những người thân thuộc. Hễ có cơ hội là em sẽ lan truyền cách thức cho tất cả những người quen biết để ai cũng có thể tự làm chủ được việc chữa và tăng cường sức khỏe cho bản thân.

    Câu 19: Thế giới quan và nhân sinh quan của em đã có sự thay đổi. Trước đây em chỉ tin vào tây y thì bây giờ em đã có cách nhìn khác. Mọi việc không phải chỉ có một cách làm duy nhất mà điều quan trọng là phải “nghĩ khác đi” và dám dấn thân, tìm tòi và trải nghiệm cái mới.

    Câu 20: Là người mới nhập môn và mục đích học DC là tự giữ sức khỏe cho bản thân và người nhà nên em không định trở thành chuyên gia về chữa trị. Tuy nhiên do thường xuyên chữa các bệnh về mũi-họng và đau cổ gáy nên hiện nay em khá tự tin khi gặp các bệnh này.

    Câu 21:Âm dương khí công là một môn khí công luyện tập rất đơn giản nhưng hiệu quả hết sức rõ ràng. Em là người thuộc tạng hàn nên phù hợp với cách thở đường dương. Sau khi tập quen cách thở, em cảm thấy các bộ phận nội tạng được ấm lên, và chống lại cái lạnh của thời tiết. Trước đây em hay lo lắng, tim đập nhanh khi ngồi sau xe môtô chạy với tốc độ cao thì nay triệu chứng này đã giảm hẳn và hầu như không còn nữa. Ba của em bị bệnh hẹp động mạch nên thường bị mệt tim, tức ngực và khó thở. Sau khi bắt đầu thở đường dương thì chứng cũng thuyên giảm.

    Câu 22: Hình hào quang của Thầy em đã tự mình trải nghiệm khi bị cảm và sổ mũi. Em đặt hình Thầy lên mũi khoảng 20 phút thì có cảm giác mát lạnh giống như có xoa dầu, sau đó mũi hết nghẹt, hết chảy và bình thường mà không cần uống thuốc. Mẹ em hay bị mất ngủ mỗi khi lo lắng cũng dùng hình của Thầy đặt lên trán mỗi tối và ngủ rất ngon.

    Câu 23: Các đồ hình phản chiếu trong DC có sự giống nhau là đều phản chiếu hai vùng chính là bên ngoài cơ thể và nội tạng bên trong. Tuy nhiên mỗi đồ hình cho thấy những vị trí phản chiếu, tương đồng khác nhau trên toàn cơ thể. Tùy theo cơ thể mỗi bệnh nhân mà người dùng DC phải tìm ra đồ hình nào là phù hợp nhất.

    Câu 24: Các dụng cụ trong DC rất đa dạng, phù hợp với nhiều cách sử dụng như ấn, day, cào, lăn, xăm, gõ nhưng giống nhau ở khía cạnh là đều có chia âm, dương và phân biệt rõ dụng cụ nào dành cho người tạng hàn, dụng cụ nào dành cho người tạng nhiệt. Thêm điều đặc biệt nữa là dụng cụ DC không chỉ

    Chia sẻ:
    Bài viết khác:
    Zalo
    Hotline
    DMCA.com Protection Status